Phạm Thị Ly (2019)
Bài đăng báo điện tử Zing ngày 3.2.2019.


Năm qua, chúng ta chứng kiến nhiều chuyển động mạnh mẽ và rất đáng chú ý của giáo dục đại học (GD ĐH) Việt Nam.  Liệu những chuyển động này sẽ tạo ra những ảnh hưởng như thế nào cho GD ĐH năm nay và những năm sắp tới?

Nhìn lại năm qua

Một xu hướng nhất quán trong những năm qua là nhu cầu mở rộng tự chủ của các trường và sự nới rộng từ từ của cơ quan quản lý nhà nước. Cả ba bên, nhà trường, nhà nước và xã hội, đều hiểu rằng mở rộng tự chủ là con đường không thể tránh để nâng cao năng lực đáp ứng của các trường trước áp lực thay đổi ngày càng tăng của nền kinh tế. Tuy vậy, một số điểm nghẽn chưa được giải quyết khiến quá trình này tiến triển khá chậm, đó là sức ỳ tư duy theo lối mòn, là quyền lợi của các nhóm lợi ích, là một cơ chế trách nhiệm giải trình khả thi cho các trường cả công và tư.

Trong khi đó thì cuộc sống vẫn vận động không ngừng với những lối đi của riêng nó, không chờ đợi các nhà làm chính sách. Khu vực GD ĐH tư trong những năm gần đây tiếp tục phát triển mạnh để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Sự tham gia của những tập đoàn lớn như VinGroup hay Nguyễn Hoàng Group cho thấy mức độ hứa hẹn, sôi động và quá trình tiến tới kinh doanh chuyên nghiệp của thị trường giáo dục. Những thương vụ mua bán, sáp nhập trong năm qua là minh chứng rõ nét cho điều này.

Khu vực công cũng đang trở thành ngày càng năng động hơn. Tuy về bản chất trường công vận hành với những nguyên tắc khác với trường tư, có vẻ như khoảng cách này trong thực tế ngày càng ngắn lại. Tất nhiên xét về nguồn gốc, chức năng, sứ mệnh,  cơ chế tài chính, .trường công khác, và cần phải khác với trường tư. Nhưng nhìn vào nội dung hoạt động của các trường, quả thật chúng ta không thấy có nhiều khác biệt. Chẳng hạn, về các ngành đào tạo, tiêu chuẩn tuyển sinh, mức học phí, v.v. ranh giới công và tư quả là đang mờ dần.

Một xu hướng khác đáng ghi nhận là những nỗ lực hội nhập quốc tế. Nghiên cứu khoa học ở Việt Nam giờ đây đang được đo lường bằng những thước đo thành quả được quốc tế công nhận. Trắc lượng khoa học, cũng như những tiêu chuẩn về đạo đức nghiên cứu đang trở nên quen thuộc trong đời sống học thuật ở Việt Nam. Lý do là vì ngày càng có nhiều người đi học ở các nước phát triển trở về nước và mang theo những kinh nghiệm mới. Ngoài thành tích đang tăng nếu xét về số lượng so với những năm trước, một biểu hiện của xu hướng này là những chuyện ồn ào chung quanh vấn đề học hàm, học vị và đạo văn đã dẫn tới những quy định mới của nhà nước về đào tạo tiến sĩ, công nhận văn bằng và xét phong học hàm giáo sư. Những quy định mới này đã có tiếp thu các chuẩn mực quốc tế nhằm cải thiện chất lượng đội ngũ làm khoa học.

Trong bối cảnh đó, Luật GD ĐH sửa đổi được thông qua. Liệu những thay đổi lần này sẽ có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển trong những năm sắp tới của cả hai khu vực công và tư trong GD ĐH?

Một số điểm nổi bật đáng chú ý và triển vọng tương lai

Nhằm tháo gỡ những điểm vướng mắc nói trên, Luật GD ĐH sửa đổi tập trung vào một số vấn đề lớn, đó là hội đồng trường (HĐT) ở trường công và vấn đề không vì lợi nhuận ở trường tư.

Để đáp ứng với ý kiến chỉ trích của giới học thuật trước đây về việc HĐT chỉ tồn tại một cách hình thức, không có vai trò thực sự do không có thực quyền, Luật GD ĐH sửa đổi đã quy định hai điểm quan trọng chưa có trước đây: một là Chủ tịch HĐT không kiêm nhiệm các vai trò khác ở trong trường,  và hai là HĐT sẽ đóng vai trò chính trong việc lựa chọn hiệu trưởng (HT), Bộ chỉ thực thi vai trò quản lý nhà nước, tức công nhận HT.

Luật chỉ quy định bí thư Đảng, cùng với vài thành phần khác, là thành viên mặc định của HĐT nhưng không quy định vai trò cụ thể của các thành phần này. Nói cách khác, mối quan hệ giữa Đảng và Hội Đồng Trường vẫn còn là điều được bỏ ngỏ trên phương diện thể chế hóa. Có thể là bí thư Đảng kiêm nhiệm vai trò chủ tịch HĐT, có thể là tổ chức Đảng nắm vai trò lãnh đạo thông qua bí thư Đảng trong HĐT, nhưng có sự phân biệt giữa chức năng lãnh đạo của Đảng, chức năng quản trị của HĐT, và chức năng quản lý của HT. Có thể đó là một giải pháp tốt trong bối cảnh hiện tại của Việt Nam, để phát huy các sáng kiến  đa dạng phù hợp với bối cảnh từng trường.

Như vậy, xét về cơ chế quản trị, các nhà làm chính sách đã tạo điều kiện để các trường chủ động xây dựng một mô hình quản trị phù hợp. Một điểm rất đáng ghi nhận là trong Luật GD ĐH sửa đổi lần này, các nhà làm chính sách đã đưa hẳn khái niệm “các bên liên quan” vào định nghĩa của HĐT: “Hội đồng trường của trường đại học công lập là tổ chức quản trị, thực hiện quyền đại diện của chủ sở hữu và các bên có lợi ích liên quan”. Việc đưa vào luật khái niệm “các bên liên quan” là một bước tiến quan trọng về mặt tư duy. Nói về cơ chế quản trị, thực chất là nói về cơ chế ra quyết định. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng những quyết định được đưa ra với sự tham gia của những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi những quyết định đó, thường sẽ là những quyết định tốt nhất. Vì thế làm thế nào mở rộng dân chủ trong cơ chế ra quyết định sẽ là một điều kiện quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh Luật GD ĐH sửa đổi đã trao cho nhà trường thêm nhiều quyền tự chủ, và áp lực xây dựng thiết chế quản trị tốt để tăng hiệu quả hoạt động đang ngày càng tăng trong bối cảnh cạnh tranh.

Tuy vậy, thực tế hiện nay là vai trò của “các bên liên quan” trong cơ chế ra quyết định của các trường vẫn còn rất yếu. Minh chứng cho điều này là tiếng nói của sinh viên. Người học chắc chắn là bên liên quan quan trọng nhất của trường ĐH, nhưng hiện nay họ hầu như không có vai trò gì trong hoạt động quản trị nhà trường. Vẫn phổ biến lối tư duy xem người học là đối tượng để giáo dục, quản lý, và là nguồn tiền, trong lúc lẽ ra phải xem họ là một đối tác đầu tư.

Người học chẳng những đã đầu tư vào trường qua số tiền học phí họ đóng, mà còn đầu tư thời gian, công sức, chi phí cơ hội của cuộc đời. Thái độ của nhà trường đối với người học, và thái độ của người học đối với nhà trường là một trong những điểm khác biệt rõ nét nhất, đập vào mắt nhiều nhất giữa các trường ĐH Việt Nam và các trường ĐH ở những quốc gia phát triển. Ở những nền giáo dục đã trưởng thành, sinh viên là một phần rất quan trọng tạo ra khuôn mặt của nhà trường. Bốn năm học đại học không phải chỉ bao gồm những buổi lên lớp và những bài thi hết môn, mà còn là thể thao, hoạt động cộng đồng, thực hiện trải nghiệm kỹ năng lãnh đạo và làm việc nhóm. Sinh viên và cựu sinh viên là thành phần không thể thiếu trong cơ cấu HĐT đối với nhiều trường, nhằm bảo đảm rằng nhà trường đáp ứng tốt nhất những nhu cầu và mong đợi của họ.

Sự tham gia của các bên khác, như doanh nghiệp và các hiệp hội chuyên ngành trong cơ cấu HĐT cho đến nay vẫn còn mang tính chất hình thức. Tuy Luật GD ĐH sửa đổi có quy định về thành phần này trong HĐT, nhưng đó mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là động lực thực sự của nhà trường, là nhu cầu gắn kết với các doanh nghiệp, là một cơ chế hợp tác win-win giữa hai bên. Nhìn bên ngoài, có vẻ như sinh viên và các doanh nghiệp là các bên liên quan khác nhau đối với nhà trường và độc lập với nhau, nhưng thực ra, tiếng nói của sinh viên càng mạnh thì động lực của nhà trường trong việc gắn kết với các doanh nghiệp càng lớn. Mối quan hệ với các doanh nghiệp mang lại nhiều lợi ích cho nhà trường mà trước hết là cải thiện chất lượng đào tạo, vốn là mối quan tâm trực tiếp của người học.

Vấn đề thứ hai là trường ĐH tư không vì lợi nhuận (KVLN). Có thể nói đây là “món nợ” nhiều năm qua của các nhà làm chính sách đối với xã hội và đối với giới đầu tư giáo dục. Luật GD ĐH sửa đổi đã “trả” món nợ này bằng những giải pháp đặc thù trong bối cảnh Việt Nam. Cách xử lý của Luật GD ĐH sửa đổi là sự pha trộn giữa những quan niệm phổ quát trên thế giới về ĐH KVLN và những biến đổi cho phù hợp với thực tế Việt Nam, mà điểm quan trọng nhất là vẫn thừa nhận sở hữu tư nhân đối với loại trường này, chỉ có lợi nhuận là không phân chia. Tinh thần của Luật là trao quyền chủ động tối đa cho nhà đầu tư, vì thế xét cho cùng cũng không có khác biệt lớn giữa các trường VLN và KVLN.

Điều này sẽ có tác động ra sao đến bức tranh của GDĐH tư trong những năm sắp đến? Điều này còn tùy thuộc vào các chính sách ưu đãi của nhà nước đối với loại hình KVLN. Luật đã có một quy định rất hợp lý là khi xử lý vấn đề tài sản của các trường KVLN, những tài sản do nhà nước ưu đãi mà có, ví dụ như đất đai, và tài sản hiến tặng của tổ chức/ cá nhân, sẽ không được chuyển thành sở hữu tư nhân dưới bất cứ hình thức nào. Dù vậy, tất nhiên nhà trường vẫn được hưởng lợi rất đáng kể từ những chính sách này. Đã có một số trường gần đây đăng ký hoạt động KVLN, cho thấy các nhà đầu tư khá hào hứng với những quy định mới về trường KVLN. Cần phải có thời gian để đánh giá rằng những ưu đãi này rốt cuộc mang lại lợi ích cho ai. Trong khi chờ đợi, có thể hy vọng rằng những ưu đãi đối với loại hình KVLN sẽ giúp tích tụ nguồn lực và củng cố tầm nhìn dài hạn cho giới đầu tư giáo dục, hai điều kiện cơ bản trong số những điều kiện cần thiết để GD ĐH tư có thể phát triển lành mạnh.