TỪ BẢNG XẾP HẠNG 49 TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM HƯỚNG TỚI TƯƠNG LAI

Phạm Thị Ly (2017)
Bài đăng Tuổi Trẻ Cuối tuần số ra ngày 16.09.2017 với tiêu đề: “Xếp hạng, rồi sao nữa?”

Chúng ta có cần một bảng xếp hạng cho các trường ĐH Việt Nam hay không, và nếu có, thì nó nên như thế nào?

Nhu cầu về xếp hạng ĐH

Ban đầu, mục đích của các bảng xếp hạng ĐH là cung cấp thông tin cho người học. Nhu cầu đó chưa bao giờ giảm bớt thậm chí ngày càng lớn hơn trong một xã hội tràn ngập thông tin.

Học ĐH là một cuộc đầu tư tốn kém không chỉ về tiền bạc mà còn về thời gian và chi phí cơ hội. Vì thế cân nhắc thông tin để chọn trường là một nhu cầu hoàn toàn chính đáng và cần được đáp ứng.

Tuy nhiên các bảng xếp hạng ngày nay đã trở thành một hiện tượng đem lại nhiều ảnh hưởng tiêu cực hơn là tích cực. Do những tác động to lớn mà nó gây ra, nó không còn chỉ có ý nghĩa như một thông tin tham khảo cho người học, mà là tạo ra các xu hướng có thể định hình hoạt động và hướng đi của các trường. Chính vì thế mà xếp hạng ĐH bị giới hàn lâm phương Tây phản đối quyết liệt. Ngay cả giới quản lý gần đây cũng phải thay đổi cách nhìn với các bảng xếp hạng. Bản tuyên ngôn của 65 Hiệu Trưởng các trường ĐH ở các nước Châu Mỹ Latin về vấn đề xếp hạng ĐH đã nhận định rằng bảng xếp hạng là một hệ thống thứ bậc chứ không phải một hệ thống thông tin; nó chứa đựng nhiều định kiến thiên lệch, không thích hợp cho việc đánh giá kết quả hoạt động của một trường, và gây ra nhiều hiểu lầm sai lạc.

Câu hỏi đặt ra là, liệu có thể cải thiện các bảng xếp hạng để trả lại cho nó chức năng thông tin ban đầu, dùng nó như một công cụ làm tăng trách nhiệm giải trình và hướng các trường đi theo những con đường mà xã hội mong muốn được không?

Và bảng xếp hạng các trường ĐH Việt Nam

Cho đến nay, Việt Nam chưa có trường ĐH nào chính thức lọt vào các bảng xếp hạng ĐH quốc tế có uy tín (Webometrics thực chất là xếp hạng trang web của các trường chứ không phải là xếp hạng trường). Vì sao?

Với những thước đo của bảng xếp hạng Thượng Hải (giải Nobel, số bài trên Nature, Science, số người có chỉ số trích dẫn cao nhất trong top 1% toàn cầu) thì các trường Việt Nam hiện nay “không có cửa” lọt vào. Với các thước đo của THES, ví dụ như uy tín của trường, thì những đồng nghiệp quốc tế biết đến các trường Việt Nam đủ để đánh giá cao uy tín của trường và đưa tên trường vào bản nhận xét đánh giá của họ, chắc chắn không có số lượng đủ lớn. Xét về số lượng công bố quốc tế, thì những thành quả mà chúng ta đạt được tuy đáng khích lệ nhưng chưa đủ để so sánh với các nước phát triển. Một số cá nhân người Việt Nam đạt thành tích cao mới chỉ là các ngoại lệ hiếm hoi.

Vả lại, nếu xét đến mục đích cung cấp thông tin cho người học, thì bảng xếp hạng các trường trong nước có ý nghĩa quan trọng và thiết yếu hơn đối với người học Việt Nam, đối tượng mà nó phục vụ. Một số ít người Việt Nam có điều kiện chọn lựa trường học ở nước ngoài có thể dựa vào các bảng xếp hạng quốc tế, nhưng đại bộ phận người dân vẫn sẽ cần lựa chọn các trường ĐH trong nước, vì thế, chúng ta có thể vẫn cần đến một bảng xếp hạng các trường trong nước.

Cho đến nay, Việt Nam vẫn còn nhiều “đặc thù” xa lạ với thực tiễn giáo dục quốc tế, đặc biệt là về quản trị cả ở cấp hệ thống lẫn cấp trường. Có những tiêu chí được coi là hợp lý trong bối cảnh quốc tế lại có thể không hợp lý trong bối cảnh Việt Nam. Ví dụ quy mô sinh viên. Trong điều kiện có cơ chế trách nhiệm giải trình và minh bạch thông tin thì quy mô sinh viên của trường có thể phản ánh sức thu hút của trường với người học, một biểu hiện của uy tín và chất lượng. Nhưng ở Việt Nam, quy mô đào tạo lại có thể là biểu hiện của việc buông lỏng chất lượng và chạy theo doanh thu. Có trường quy mô đào tạo trong thời hoàng kim của nó lên tới hàng trăm ngàn sinh viên, trong lúc tên tuổi và uy tín của nó trong giới học thuật hầu như không ai đánh giá cao. Nếu chỉ dựa vào quy mô ấy mà khẳng định chất lượng tốt, thì quả là đáng quan ngại.

Vì thế một bảng xếp hạng các trường ĐH Việt Nam, với những tiêu chí hợp lý trong bối cảnh Việt Nam và dữ liệu khả tín có thể mang lại những ý nghĩa tích cực, trong điều kiện công chúng được thông tin đầy đủ để tránh diễn giải sai lạc các kết quả.

Hướng tới tương lai

Sẽ không bao giờ có một bảng xếp hạng nào phản ánh được đầy đủ chất lượng họat động thực sự của nhà trường, bởi lẽ “không phải cái gì đo được cũng đều đáng phải đo, và không phải cái gì đáng phải đo ta cũng đều có thể đo lường được”. Vì thế quy tất cả sứ mạng và hoạt động của nhà trường vào một vài thước đo/chỉ số là chuyện bất khả, chưa nói đến bản chất cực kỳ đa dạng của các trường trong một hệ thống.

Các bên liên quan cần hiểu rõ nguyên tắc ấy trước khi bàn đến bảng xếp hạng hay bất cứ kết quả xếp hạng nào.

Có lẽ, điều kiện tiên quyết cho giá trị của một bảng xếp hạng là tính độc lập, khách quan, và tính liêm chính trong quá trình thu thập và xử lý số liệu. Điều kiện cần là một bộ tiêu chí không chỉ khả thi về mặt kỹ thuật mà còn phản ánh được những mong đợi và kỳ vọng của xã hội đối với nhà trường. Còn điều kiện đủ là chất lượng của dữ liệu gốc và phương pháp, quy trình xử lý dữ liệu.

Có thể dựa trên ba điều kiện nói trên để thảo luận về những đóng góp của bảng xếp hạng 49 trường ĐH lần đầu được công bố ở Việt Nam, như một ví dụ để hướng tới tương lai.

Tính độc lập, khách quan và liêm chính

Theo tuyên bố của nhóm tác giả, thì đây là một dự án phi lợi nhuận nhằm phục vụ nhu cầu thông tin của người học và thúc đẩy cạnh tranh, minh bạch ở các trường, không nhận tài trợ từ một tổ chức, cá nhân nào. Dựa vào tuyên bố đó, có thể xem đây là một bảng xếp hạng độc lập và vì vậy có thể được thực hiện một cách khách quan.

Thế còn tính liêm chính? Ở các nước, cơ sở dữ liệu trong quá trình thu thập và xử lý thông tin cũng không mở ra cho công chúng được tiếp cận. Không chỉ xếp hạng ĐH, mà cả những chỉ số quan trọng khác như chỉ số tác động (Impact Factor) của các tập san khoa học hay số lượng trích dẫn của các bài báo khoa học  cũng không mở ra dữ liệu gốc cho công chúng. Vì thế, thực sự là rất khó kiểm chứng tính xác thực của kết quả. Tuy vậy, ít ai đặt dấu hỏi về tính liêm chính của các tổ chức thực hiện đo đạc và công bố những chỉ số đó, là vì xã hội phương Tây vận hành trên nền tảng niềm tin. Nếu chưa có bằng chứng về việc làm giả, làm dối, thì mọi tổ chức/cá nhân được mặc định là làm đúng, làm trung thực. Dĩ nhiên là khi có bằng chứng cho việc làm giả, làm dối thì tổ chức/cá nhân ấy sẽ phải trả giá rất đắt, nói không quá là “hết đất sống”. Niềm tin là một nguồn vốn xã hội quan trọng của các nước phát triển, và là nền tảng để duy trì hiệu năng.

Ở Việt Nam, niềm tin là một vấn đề “có vấn đề”. Trong  bối cảnh thiếu niềm tin ở Việt Nam, tuy uy tín cá nhân của chuyên gia/tổ chức xếp hạng là một yếu tố quan trọng, nhưng tính liêm chính của quá trình xử lý dữ liệu vẫn cần phải được bảo toàn bằng một cơ chế công khai. Ví dụ, khi tiêu chí đo thành quả nghiên cứu khoa học là số bài báo ISI/Scopus, thì kết quả này nên được kết nối đến một cơ sở dữ liệu liệt kê đầy đủ tên bài báo và tác giả, năm xuất bản và nhà xuất bản để bất cứ ai cũng có thể kiểm chứng.

Về bộ tiêu chí và ý nghĩa đối với xã hội

Bộ tiêu chí mà bảng xếp hạng 49 trường nêu ra nhìn chung là kế thừa các tiêu chí “truyền thống” và “cổ điển” của các bảng xếp hạng phổ biến trên thế giới, với tất cả những nhược điểm đã được nêu ra nhiều lần trong hàng ngàn bài báo.

Ví dụ: về nghiên cứu khoa học, bản thân việc chỉ sử dụng các bài báo trên những tập san khoa học được liệt kê trong danh mục ISI/Scopus cũng đã đáng được chỉ trích. Lý do là nó tạo ra một cái nhìn sai lệch về thành quả nghiên cứu. Không nên quên rằng văn hóa công bố của các ngành khác nhau là rất khác nhau, chẳng hạn, giới khoa học xã hội có xu hướng viết sách hơn là viết bài báo, và tác động hay ảnh hưởng của những tư tưởng hay trường phái trong khoa học xã hội có thể đến chậm hơn và tác động lâu dài hơn theo những cách khác nhau không chỉ là số lượng trích dẫn.

Nhưng quan trọng hơn là những ý nghĩa/ tác động mà những tiêu chí này tạo ra.  Xét về tác động xã hội, việc coi những bài báo này là cơ sở duy nhất để đo thành quả nghiên cứu sẽ dẫn đến văn hóa chạy theo số lượng, và kết quả ngày nay chúng ta đang chứng kiến là số bài báo khoa học trong vòng một thập kỷ qua đã lên đến khoảng sáu triệu trên thế giới mà tuyệt đại đa số là nhanh chóng chìm vào quên lãng. Đó là chưa nói tới việc xuất bản trên các tập san ISI/Scopus hiển nhiên là thuận lợi cho các nước nói tiếng Anh, và không thể nói rằng một kết quả nghiên cứu không được viết bằng tiếng Anh thì không có giá trị gì. Mỗi năm nhà xuất bản Elsvier nhận được khoảng 1,5 triệu bài báo và đa số là bị vứt vào sọt rác. Bao nhiêu tiền bạc đổ vào việc tạo ra các bài báo đó đã thành mây khói? Và kể cả nó có được đăng, 82,5% bài báo cũng chưa từng bao giờ được trích dẫn. Việc quá nhấn mạnh các bài báo này cũng làm mờ đi những hoạt động nghiên cứu khác không kém phần quan trọng là khoa học ứng dụng và chuyển giao công nghệ, hay những nghiên cứu tác động và báo cáo chính sách, là những thứ mà kết quả của nó không phải là các bài báo, nhưng nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng suất, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống của người dân.

Ta không nên quên điều mà Stephen Buranyi nói về cha đẻ của học thuyết di truyền phân tử, Fred Sanger, người công bố rất ít trong hai thập kỷ giữa hai lần được giải Nobel của ông, năm 1958 và 1980: “Trong hệ thống ngày nay, ông ấy hẳn đã có thể bị đuổi cổ khỏi trường đại học của ông rồi!”.  Thêm một dẫn chứng, là trong những năm 1930-1940, 20% bài báo trên tờ Khoa học Chính trị Hoa Kỳ tập trung vào khuyến nghị chính sách. Tỉ lệ đó ngày nay là 0,3%.

Trong bảng xếp hạng 49 trường này, chất lượng giáo dục đào tạo được đo bằng quy mô đào tạo (thể hiện qua số lượng sinh viên) số giảng viên có bằng tiến sĩ, tỉ lệ sinh viên/ giảng viên và điểm đầu vào của sinh viên. Các bảng xếp hạng quốc tế có thể cũng dùng một số thước đo tương tự. Tuy nhiên, có những thứ có thể đúng ở nơi khác nhưng không đúng trong bối cảnh Việt Nam, như tiêu chí điểm đầu vào mà chúng tôi đã đề cập trong một bài viết khác trước đây. Một lần nữa, điều quan trọng hơn là những tác động mà các tiêu chí ấy có thể gây ra. Nhấn mạnh và tuyệt đối hóa khía cạnh số lượng, chúng ta có thể sẽ tạo ra những hiệu ứng tiêu cực. Ví dụ như “lò ấp tiến sĩ” đã được đề cập nhiều trên mặt báo, có phần chính là nhằm đáp ứng với áp lực “số giảng viên có bằng tiến sĩ”. Trong thực tế, một giảng viên kém có bằng tiến sĩ sẽ gây ra tác hại lớn gấp trăm lần một giảng viên kém không có bằng tiến sĩ. Vì thế, thật là khó mà thuyết phục giới chuyên môn rằng những tiêu chí này có thể phản ánh được dù chỉ một phần chất lượng đào tạo của các trường.

Trong tương lai chúng ta có thể nghĩ đến những tiêu chí khác thuyết phục hơn, ví dụ như đánh giá của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp của các trường, hoặc thu nhập của sinh viên sau khi ra trường từ 3-5 năm chẳng hạn. Nếu có một đội ngũ thực hiện tốt và phương pháp chọn mẫu, thu thập số liệu thỏa đáng, xét về mặt kỹ thuật, việc đo lường những tiêu chí này không phải là không thể thực hiện được.

Về chất lượng dữ liệu

Chất lượng dữ liệu hiện nay chủ yếu phụ thuộc vào cấp trường. Bảng xếp hạng 49 trường sử dụng phần lớn là dữ liệu do các trường cung cấp. Trong bối cảnh hiện tại ở Việt Nam, chất lượng dữ liệu ở cấp trường khó mà nhanh chóng được cải thiện. Tuy vậy, chúng ta có thể hy vọng nếu chính phủ quyết tâm đẩy mạnh các cơ chế thúc đẩy minh bạch và trách nhiệm giải trình, thì vấn đề này có thể cải thiện được ít nhiều. Hiện nay, các báo cáo kiểm định chất lượng của các trường tuy không thể chắc chắn về tính khả tín, nhưng ít nhất nó đã trải qua quá trình xem xét của kiểm định viên là những người có chuyên môn trong việc đánh giá số liệu, có thể là một cơ sở để xem xét.

Trong tương lai chúng ta cần nghĩ tới những phương pháp thu thập số liệu từ các nguồn thứ ba không phụ thuộc vào nhà trường.

Ai có thẩm quyền thực hiện bảng xếp hạng?

 Có người đặt vấn đề ai mới có thẩm quyền xếp hạng? Nếu bác sĩ phải học sáu năm lấy bằng, nếu luật sư chẳng những phải có bằng mà còn phải có chứng chỉ hành nghề, thì liệu những người không có chuyên môn về giáo dục đại học có thẩm quyền để thực hiện một bảng xếp hạng như thế hay không?

Ở các nước, những nghề nghiệp có khả năng gây tổn hại cho khách hàng thì chẳng những phải học hành có bằng cấp nghiêm chỉnh mà còn phải trải qua sát hạch của các hội nghề nghiệp để được công nhận quyền hành nghề, ngay cả những nghề có vẻ ít quan trọng như nghề làm móng chẳng hạn. Một bảng xếp hạng ĐH không chính xác có thể gây tổn hại tới uy tín của một trường hay không, và trách nhiệm của những người thực hiện bảng xếp hạng đó là gì với những tổn thất đó (nếu có)?

Tuy không phủ nhận tầm quan trọng của kiến thức, năng lực chuyên môn trong việc thực hiện bảng xếp hạng, quan điểm cá nhân của tôi là, chúng ta không cần tạo ra một giấy phép con trong việc đó, trái lại nên khích lệ sự tham gia của nhiều nhóm khác nhau với các quan điểm và cách làm khác nhau, bởi vì một xã hội trưởng thành sẽ có cách tự điều chỉnh của nó.

Có thể phản biện rằng như thế có mà loạn, vì công chúng biết tin vào đâu. Nhưng sự thực là giấy phép con cũng không đảm bảo cho tính khả tín, vốn là yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị của một bảng xếp hạng. Trái lại, nó còn tạo điều kiện cho tình trạng độc quyền vốn là căn nguyên của tham nhũng và thối nát. Trên thế giới cũng không có nước nào mà các tổ chức xếp hạng phải được nhà nước cấp phép.

Hãy thử tưởng tượng, điều gì sẽ xảy ra nếu năm tới chúng ta có hai, ba, bốn, hoặc hàng chục bảng xếp hạng ra đời? Bình tĩnh, hết sức bình tĩnh! Điều đó cũng chẳng phải là một thảm họa kể cả nếu các bảng xếp hạng này giá trị học thuật bằng zero chăng nữa! Thực tế hiện nay đang có rất nhiều bảng xếp hạng ĐH khác nhau trên thế giới, có bảng xếp hạng theo ngành, có bảng chỉ xếp hạng những trường dưới 50 năm tuổi, có bảng chỉ xếp hạng về tính tiện nghi và vị trí tiện dụng đối với sinh viên. Đó là điều hoàn toàn bình thường, bởi vì nhu cầu thông tin của công chúng là vô cùng đa dạng. Tiêu chí khác nhau, phương pháp khác nhau, nguồn dữ liệu khác nhau, kết quả khác nhau, tính khả tín khác nhau, đến nỗi thế giới đã có hẳn bảng “xếp hạng các bảng xếp hạng” xuất hiện lần đầu năm 2017.

Xã hội sẽ tự điều chỉnh bằng chính hoạt động của giới học thuật. Phản ứng của giới hàn lâm trên thế giới đã minh chứng rõ cho điều đó. Sự cọ xát ý kiến khác nhau sẽ có thể tạo ra hỗn loạn ban đầu, nhưng về lâu dài, không có cách nào khác để chúng ta tiến tới một xã hội trưởng thành trong đó chính sự khác biệt và đa dạng về ý tưởng sẽ là động lực kích thích sự phát triển.

Xếp hạng ĐH chỉ là một công cụ

Có thể chúng ta sẽ chứng kiến tình trạng nhiễu loạn thông tin khi có nhiều bảng xếp hạng ra đời và người sử dụng không phải ai cũng có khả năng chuyên môn thẩm định giá trị của thông tin. Bộ GD-ĐT với tư cách là cơ quan quản lý có thể ban hành những văn bản hướng dẫn (xin lưu ý là hướng dẫn, chứ không bắt buộc) về những chuẩn mực mà các tổ chức xếp hạng nên theo, ví dụ như bình duyệt chuyên nghiệp trước khi công bố, hoặc những thông tin nào cần phải mở ra dữ liệu gốc cho công chúng được tiếp cận.

Vì là một công cụ, nó có tác dụng như thế nào là do cách chúng ta sử dụng nó. Nếu các bảng xếp hạng đo mức độ hài lòng của người sử dụng lao động đối với sinh viên của mình, hay quy mô và tầm vóc của các doanh nghiệp khởi nghiệp do sinh viên của trường đề xướng, thì các thước đo ấy sẽ kích thích các trường tập trung vào những giá trị thực sự mà nhà trường có thể mang lại cho người học và phù hợp với mong đợi của xã hội.

Những trường ĐH tập trung vào sứ mạng thực sự của nhà trường và tự tin vào chất lượng công việc của mình sẽ không lo lắng về việc bị tổn hại uy tín bởi các bảng xếp hạng dỏm. Đã có rất nhiều trường ĐH trên thế giới nói không với các bảng xếp hạng, trong đó có những trường cực kỳ xuất sắc, như Standford University, từ năm 1997 đã không gửi số liệu cho bảng xếp hạng US News &World Report do những khiếm khuyết về phương pháp và cách tiếp cận của nó. Trường Kinh tế Chính trị Luân Đôn cho rằng những thước đo của các bảng xếp hạng chẳng có giá trị gì đối với phẩm chất khoa học trong những hoạt động của trường. ĐH Kỹ thuật Olin được xem là trường đào tạo kỹ thuật tốt nhất thế giới cũng không có tên trong bất cứ bảng xếp hạng nào.

Cuối cùng, xếp hạng ĐH trên thế giới đã và đang không ngừng được cải tiến. Các nhóm cá nhân hay tổ chức ở Việt Nam cần theo sát những bước phát triển ấy để không lặp lại những điểm bất cập đã được nêu ra. Ưu điểm của nhóm tác giả xếp hạng 49 trường là họ có ý thức rõ về những điểm yếu của mình, và đã làm tốt nhất trong những điều kiện mà chúng ta đang có. Xã hội cần ghi nhận đây là một nỗ lực thúc đẩy tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của các trường. Xã hội cũng cần làm quen với một không gian tranh luận cởi mở hơn nơi những quan điểm khác biệt đều được lắng nghe và phản biện trên cơ sở hướng tới một mục tiêu chung: đâu là những giới hạn của chúng ta và liệu có cách gì để vượt qua, cái gì chúng ta có thể làm tốt hơn, và cái gì là tốt nhất cho cộng đồng xã hội.